Hiển thị các bài đăng có nhãn Trang sử quý. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trang sử quý. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 3 tháng 2, 2014

Không có cái gọi là "từ hán Việt"

Trên trang mạng Bách Việt, ông Trần Kinh Nghị có bài “Di sản Hán Việt”*. Sau khi nhận định: quãng trên dưới 70-80 % từ vựng tiếng Việt có thành tố Hán-Việt, ông cho rằng “nếu vì một lý do nào đó mà để ngôn ngữ nước mình bị một ngôn ngữ khác lấn át và tình trạng lấn át kéo dài chắc chắn sẽ dẫn đến nguy cơ bị đồng hóa hoặc thoái hóa.” Kết thúc bài viết, ông đề nghị Nhà nước có biện pháp hạn chế việc dùng từ Hán Việt để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
Đồng cảm với nỗi bức thúc của ông nhưng nhận thấy đây là vấn đề lớn và không hề đơn giản, chúng tôi xin thưa lại đôi lời.
  1. I.        Có đúng tiếng Việt vay mượn từ ngôn ngữ Hán?
Muốn giải quyết thỏa đáng chuyện này, không còn cách nào khác là phải đi tới tận cùng cội nguồn ngôn ngữ, không chỉ của người Việt mà cả của người Trung Hoa.
Nửa sau thế kỷ XIX, ngay khi chưa đặt xong ách đô hộ trên toàn cõi Vệt Nam, những học giả người Pháp đã có mặt để nghiên cứu thiên nhiên, con người, văn hóa, xã hội xứ Annam. Từ kết quả nghiên cứu, năm 1898, nhà nước bảo hộ Pháp cho thành lập Viện Viễn Đông Bác Cổ tại Hà Nội. Đứng đầu lĩnh vực khoa học nhân văn là những nhà Hán học như E. Aymonier, L. Maspéro… Là học giả phương Tây, họ mang quan niệm Âu trung: châu Âu là trung tâm của văn minh nhân loại. Là nhà Hán học, họ theo thuyết Hoa tâm: Trung Hoa là trung tâm của châu Á. Họ cũng chịu ảnh hưởng của tri thức sai lầm đương thời cho rằng, con người từ Tây Tạng xâm nhập Trung Quốc rồi sau đó xuống Việt Nam và Đông Nam Á nên ánh sáng văn minh cũng từ Trung Hoa lan tỏa tới phương Nam. Khi nghiên cứu tiếng nói của người Việt Nam, họ có trong tay những bộ từ điển Trung Hoa đồ sộ như Từ Hải, Tứ khố toàn thư, Khang Hy… Trong khi đó, tiếng Việt chỉ có Từ điển Việt-Bồ-La của Alexander de Rhodes cùng Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của, hai cuốn sách nhỏ, tập hợp từ ngữ Việt chữ Latinh mới có khoảng 300 tuổi. Bằng thao tác đơn giản là thống kê, so sánh những từ được cho là gốc Hán có trong tiếng Việt, họ eureka: “Tiếng Việt mượn khoảng 70% từ Hán ngữ!”

Thứ Tư, 17 tháng 10, 2012

Cuộc đời của Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh

Phan Lạc Tiếp
 
Tôi xin gửi tới những ai yếu mến và tiếc thương Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh một bài viết phong phú và đôn hậu về cuộc đời của ông.
30 năm trước đây, cảm khái trước cuộc lên đường hào hùng của Hoàng Cơ Minh, thi sĩ Giang Hữu Tuyên đã sáng tác tặng ông bài thơ “Bông Bưởi Chiều Xưa”, nhạc sĩ Châu Đình An đã phổ nhạc bài thơ này và diễn tả bằng giọng hát mượt mà những giòng thơ nhạc nên thơ và hùng tráng đó…
 
Phó Ðề Ðốc Hoàng Cơ Minh
1935 Sinh tại Hà Nội
1955 Tốt nghiệp Khóa 5 Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang
1955-1962 Ðảm nhận nhiều trách vụ trên chiến hạm và đơn vị bờ
1962-1964 Chỉ Huy Trưởng Phân Ðội IV. Trục Lôi Hạm
1964-1966 Tùy Viên Quân Sự tại Hán Thành/Nam Hàn
1966-1968 Chỉ Huy Trưởng Hải Ðội 1
1969 Tốt nghiệp Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp / Ðà Lạt
1969-1971 Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chính Trị Bộ Tư Lệnh Hải Quân

Tổng thống Ngô Đình Diệm và Phật giáo


Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
 
Đạo đức của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, một lãnh tụ liêm khiết, thanh bần, tuyệt đối tôn trọng nền tảng đạo đức dân tộc và luật pháp đã chinh phục ngay cả những ke? thù địch.
 
« Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã xây dựng miền Nam Việt Nam trở thành một Quốc Gia dưới chính thể : Nền Đệ Nhất Cộng Hoà.
 
Một Quốc Gia có đầy đủ chủ quyền, độc lập, tự chủ và tự quyết, được cộng đồng quốc tế công nhận và nể vì. Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã gầy dựng nước Việt Nam Cộng Hoà từ một đống tro tàn và những hệ lụy của những năm tháng chinh chiến điêu linh, những tàn tích của thực dân phong kiến.

Thứ Bảy, 8 tháng 9, 2012

Trần Cao Vân

Trần Cao Vân là một trong những người cầm đầu âm mưu khởi nghĩa tại Trung Việt, do Việt Nam Quang Phục Hội chủ xướng. Ông sinh năm Bính Dần (1866) tại làng Tư Phú, tổng Đa Hòa, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Làng Tư Phú là một trong mười một làng thuộc khu đất "Gò Nổi", một khu đất sản xuất ra nhiều bậc anh tài của xứ sở như Phạm Phú Thứ, Hoàng diệu  v.v.. Ông là con cụ Trần Trung Trực, thường gọi là cụ Quyền Trực, một người được sự mến chuộng của dân làng Tư Phú và cụ bà Đoàn Thị.
Trần Cao Vân tên thật là Trần Công Thọ, lúc lớn lên từng học và đi thi lấy tên là Trần Cao Đệ, lúc vào chùa lấy pháp danh là Như Ý, khi ra hoạt động cách mạng đổi tên là Trần Cao Vân, biệt hiệu là Hồng Việt và Chánh Minh, còn có biệt danh là Bạch Sĩ. Theo những người đồng thời kể lại: Trần Cao Vân có vóc dáng trung trung, mặt vuông, trán cao, đôi mắt sâu và sáng, năm chòm râu dài tha thướt trông thật uy dũng.
Thường nhật ông có tánh bình dị, không chuộng sự xa hoa. Lúc thiếu thời không kể, nhưng từ khi được 21 tuổi, ngày mà ông bắt đầu ly hương cho đến ngày từ giã cuộc đời, ông đã trải qua nhiều giai đoạn: từ một nho sĩ, một đạo sĩ rồi đến một nhà cách mạng, ông sống một cuộc đời thanh đạm. Luôn luôn ông mặc một cái áo vải ta nhuộm màu xanh chàm, bịt khăn nhiễu thâm, đội chiếc nón lá, ngoài ra không có thêm một trang phẩm nào cả. Tuy là một nhà cách mạng, nhưng Trần Cao Vân rất nổi tiếng về văn chương thi phú. Lúc thiếu thời, khi còn là một thư sinh. ông tỏ ra xuất sắc nhất. Năm 13 tuổi, một hôm thầy học ra câu đối cho học trò tập làm bài. Nhìn thấy giữa lớp học có một cây đèn treo, thầy ra câu đối:

Thứ Năm, 6 tháng 9, 2012

Trung tướng Trần Văn Trung

Inline image 1

Tôi nhớ khi thông báo với các chiến hữu trong ngành về tình trạng nguy kịch của tướng Trần Văn Trung khi nằm tại một bệnh viện tại Paris trước lễ Phục sinh, anh Lê Trung Hiền có viết mấy dòng sau:

Thứ Hai, 3 tháng 9, 2012

Những tờ báo quốc ngữ đầu tiên

image
Mẩu quảng cáo đầu tiên trên báo đã có cách nay 140 năm, nhà báo Việt Nam đầu tiên là một trong 18 người uyên bác nhất thế giới thế kỷ 19 khi thông thạo đến 26 thứ tiếng. Nữ nhà báo đầu tiên của Việt Nam là con gái cụ Nguyễn Đình Chiểu.

Lê Đình An - Phong trào Thể dục thẩm mỹ của Việt Nam Cộng Hòa từ 1938 -1975

LGT: sau khi Hoàng Lan Chi viết về người phụ nữ hấp dẫn nhất Việt  Nam thập niên 60-70, nữ tài tử Kim Vui thì Lan Chi nhận được mail từ tác giả Lê Đình An như thế này:
 
Thưa cô,
Vào Thập niên 60-70. Tôi cũng có tập thể dục thẩm mỹ trong phong trào đó nên có viết 1 bài về phong trào thanh niên của chúng tôi vào thời đó nên tôi có gởi bài theo email nầy, ý của tôi cũng muốn phổ biến những kỷ niệm và cũng có thể là lịch sử của thời đó để cho các thế hệ sau nầy hiểu biết thêm về thời điểm trước 30-4-75. Chúng ta cũng đã tiến theo trào lưu văn minh tân tiến trên thế giới.
 
Một lần nữa xin cám ơn cô đã cho chúng tôi một hoài niệm thật đẹp.

Nếu có gì cần hỏi, xin cô vui lòng email cho tôi.

Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2012

Tản mạn vế Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, ông Mã Tuyên và đêm 01.11.1963

Nhà thờ Cha Tam
Nhà thờ Cha Tam

Hàng năm, cứ đến ngày 1 tháng 11 thì người dân Việt miền Nam VN đều nhớ lại ngày này trong năm 1963 mà ngày hôm sau, dẫn đến cái chết của Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Hòa Ngô Đình Diệm và người em ruột là Cố Vấn Ngô Đình Nhu.
Có quá nhiều bài viết, tài liệu và sách báo đã nói về cái chết của hai người nầy. Ai là kẻ thủ ác và tại sao?
- Tôi đã 80 tuổi mà vẫn chưa biết thực sự ai là người ra lệnh giết chết 2 anh em cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm-Ngô Đình Nhu, lời một cụ già đã nói với người viết bài nầy cách đây vài năm.
Ai giết 2 người nầy?
1/. Đã có người nói chính Tướng Dương Văn Minh, Chủ Tịch HĐQNCM ra lệnh cho cận vệ là Đại úy Nguyễn Văn Nhung giết chết (trong thiết vận xa M 113 ).
2/.Có bài báo cho là chính Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 BB giết chết 2 anh em cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm-Ngô Đình Nhu (sau khi tra khảo tiền bạc, của cải) trên đường giải giao họ về Bộ TTM QLVNCH từ nhà thờ Thánh Phanxico Xavie (còn gọi là nhà thờ cha Tam). Chiếc thiết vận xa M 113 chở 2 anh em ông Diệm-Nhu đi sau cùng đã tách khỏi lộ trình để rẽ vào Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia (khi đó đã do Sư Đoàn 5 BB chiếm đóng) rồi sau đó mới quay trở ra nhập trở lại vào đoàn xe.

Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2012

Vinh danh những người lính Biệt Kích vô danh

http://i1215.photobucket.com/albums/cc506/TatVinh/Viperteam.jpg
Trong thập niên 1960, Hoa Kỳ đưa hàng trăm biệt kích quân Việt Nam xâm nhập vào miền bắc Việt Nam. Sau đó người Hoa Kỳ báo cáo là họ đã chết, nhưng nhiều biệt kích quân vẫn cố gắng sống sót qua các trại tù nơi miền bắc, để rồi chôn vùi câu chuyện trong “tấm vải liệm (xác chết)” nhiều năm. Có ít nhất 200 biệt kích quân Việt Nam đã sống sót qua thời gian tù đầy, tra khảo, đầy đọa và đã đến định cư tại Hoa kỳ. Họ tin rằng, vẫn còn 88 biệt kích quân, đồng đội của họ bị giam giữ. Các hoạt động bí mật, không thành công nơi miền bắc Việt Nam được biết có mật danh Oplan 34A (Kế Hoạch Hành Quân 34 Alpha). Do cơ quan Trung Ương Tình Báo CIA khởi động từ năm 1961, đến năm 1964 bàn giao cho bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Hoa Kỳ, qua trung gian MACV. Theo những tài liệu, tờ báo New York Times sưu tầm được, Hoa Kỳ huấn luyện biệt kích quân Việt Nam, đưa họ xâm nhập vào miền bắc Việt Nam, rồi xoá tên từng người một trong sổ lương năm 1965. Nhiều biệt kích quân theo đạo Thiên Chúa Giáo, đã chạy trốn cộng sản trong những năm 1950, và biết tiếng tiếng điạ phương.

Thứ Hai, 27 tháng 8, 2012

Từ Tổ tiên "Hùng" đến con cháu "hèn"

Nguyễn Sơn Hà
 
Mấy ngày nay từ khi tôi được đọc cái email của ông Dzu Minh về một câu hỏi hóc búa tưởng không thể trả lời, nhưng tôi cũng đã “Trả Lời Câu Hỏi Không Thể Trả Lời ” trong một bài viết mới đây. Không biết ông Dzu Minh đã có được thỏa mãn phần nào không, chứ tôi vẫn còn đang khắc khoải với câu nói của ông TS. George (PhD), nhân viên của chính phủ Mỹ làm việc ở cơ quan “Government Accountability Office” (GAO) : “You, coward rats ! ”, như khuôn vàng thước ngọc. Xem nguyên thư email của ông Dzu Minh dưới đây :
Câu Hỏi Hóc Búa Không Thể Trả Lời.
From: D H
“Hôm qua ông hang xóm của chúng tôi, Dr. George (PhD) nhân viên chánh phủ liên bang làm ở GAO, nói với tôi: “Cơ quan GAO chúng tôi ước tính mỗi năm người Việt các anh (you, Vietnamese) đổ tiền về Vietnam khoảng 18 tỷ dollars, qua các ngả du lịch, chuyển ngân và đầu tư. Năm 2010, trị giá ngang với con số mậu dịch giữa 2 nước. Những số tiền mặt (cash, pocket money) các anh đem về chánh phủ tôi (my government, not yours) không kiểm soát được”.
Đông Lan

Triết Gia Kim Định.
Từ minh tâm: “ Tổ Nước cũng là Tổ Người” hồn phiêu lãng như chắp cánh chim Hồng, chim Lạc bay thẳng về Tổ Ấm có tiếng ca huyền thoại ngàn năm của nước Việt Linh. Trong gió Mùa Xuân còn vương, ngày Tiên tháng Rồng con xin dâng lên Quốc Tổ đoá hoa An ,đoá Quốc Hoa mà Thầy của con đã gieo hạt, ươm trồng bằng tất cả tâm tư của một đời vượt lên, vượt qua cả chính mình. Cho con biết Yêu và Mến, suối nguồn minh triết quê hương.
HUYỀN SỬ TIÊN RỒNG
MINH TRIẾT UYÊN NGUYÊN của DÂN TỘC
Huyền Thoại là tự truyện của một dân tộc được kể lại trong cái lung linh sử mệnh của dân tộc. Sử mệnh của một dân tộc là con đường tiền nhân mặc khải qua những thăng trầm, của phút nội tỉnh, những phút trổi vượt về miền tâm linh siêu việt, của những ước vọng hừng hực LỬA SINH SINH không mất đi trong hành trình sinh tử.

Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2012

Trung sĩ Vũ Tiến Quang cái bóng của Hoài Văn Vương Trần Quốc Toản hay Truyện Người Lính Nhỏ mà chính khí lớn Vũ Tiến Quang

(Trích trong bộ Lịch Sử Thiếu Sinh Quân Việt Nam)

Vũ Tiến Quang sinh ngày 10 tháng 9 năm 1956 tại Kiên Hưng, tỉnh Chương Thiện. Thân phụ là hạ sĩ địa phương quân Vũ Tiến Đức. Ngày 20 tháng 3 năm 1961, trong một cuộc hành quân an ninh của quận, Hạ Sĩ Đức bị trúng đạn tử thương khi tuổi mới 25. Ông để lại bà vợ trẻ với hai con. Con trai lớn, Vũ Tiến Quang 5 tuổi. Con gái tên Vũ thị Quỳnh Chi mới tròn một năm. Vì có học, lại là quả phụ tử sĩ, bà Đức được thu dụng làm việc tại Chương Thiện, với nhiệm vụ khiêm tốn là thư ký tòa hành chánh. Nhờ đồng lương thư ký, thêm vào tiền tử tuất cô nhi, quả phụ, nên đời sống của bà với hai con không đến nỗi thiếu thốn.
Quang học tại trường tiểu học trong tỉnh. Tuy rất thông minh, nhưng Quang chỉ thích đá banh, thể thao hơn là học. Thành ra Quang là một học sinh trung bình trong lớp. Cuối năm 1967, Quang đỗ tiểu học. Nhân đọc báo Chiến Sĩ Cộng Hoà có đăng bài: “Ngôi sao sa trường: Thượng-sĩ-sữa Trần Minh, Thiên Thần U Minh Hạ”, bài báo thuật lại: Minh xuất thân từ trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Sau khi ra trường, Minh về phục vụ tại tiểu đoàn Ngạc Thần (tức tiểu đoàn 2 trung đoàn 31, sư đoàn 21 Bộ Binh) mà tiểu đoàn đang đồn trú tại Chương Thiện. Quang nảy ra ý đi tìm người hùng bằng xương bằng thịt. Chú bé lóc cóc 12 tuổi, được Trần Minh ôm hôn, dẫn đi ăn phở, bánh cuốn, rồi thuật cho nghe về cuộc sống vui vẻ tại trường Thiếu Sinh Quân. Quang suýt xoa, ước mơ được vào học trường này. Qua cuộc giao tiếp ban đầu, Minh là một mẫu người anh hùng, trong ước mơ của Quang. Quang nghĩ: “Mình phải như anh Minh”.

Trường Thiếu Sinh Quân QLVNCH

Trận Chiến Ðấu Bi Hùng của Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu Tháng 4 1975

Truong Thieu Sinh Quan

  

Tại ngôi Trường Mẹ T.S.Q. Vũng Tàu, tôi đã được nuôi dưỡng, giáo dục suốt 7 năm trường từ khi tôi là một chú bé 11 tuổi rưỡi đến khi tôi được 18 tuổi rưỡi.

Thứ Sáu, 29 tháng 6, 2012

Ngày Quân Lực 19.06 sống mãi trong lòng người Việt tha hương

Đặng thiên Sơn
 
Trong thời kỳ chiến tranh Quốc - Cộng giữa hai miền Nam - Bắc Việt Nam, vai trò quân đội của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu nổi bật trên sân khấu chính trị miền Nam khi các tướng lãnh đứng ra làm cuộc đảo chánh lật đổ Tổng thống Ngô đình Diệm ngày 1 tháng 11 năm 1963.

Vào sáng ngày 2 tháng 11 năm 1963, khi dân chúng Sàigòn hay tin TT. Ngô Đình Diệm và bào đệ của ông là Cố vấn Ngô Đình Nhu bị giết chết, thi thể hai người được đưa về trình diện Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng tại Bộ TTM. Thì tại Cục “ R ”, Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, đứa con đẻ của Cộng Sản Bắc Việt mừng rỡ thốt lên : “ Người Mỹ đã làm giùm chúng tôi điều mà 9 năm chúng tôi không làm được ”. Và Nguyễn Hữu Thọ đã ví cuộc đảo chính và cái chết của TT. Diệm : “Chẳng khác nào quà tặng từ trên trời rơi xuống”.(Theo Richard M. Nixon, No More Vietnams, Arbor House NY, 1985, tr. 72).

Sau cuộc đảo chánh, Đại tướng Dương Văn Minh tạm thời lên nắm quyền. Nhưng chỉ hai tháng sau, tức ngày 30 tháng 1 năm 1964, tướng Nguyễn Khánh đã làm cuộc “chỉnh lý” hạ bệ Dương Văn Minh.

Thứ Bảy, 19 tháng 5, 2012

Phân Đoàn Nữ Quân Nhân Không Quân QLVNCH

Cựu Trung Tá NQN/KQ Nguyễn Thị Hạnh Nhơn

LTS: Ban Thực hiện Quân Sử KQ và Đặc san Lý Tưởng Úc Châu vừa nhận được một số tài liệu, hình ảnh liên quan đến lực lượng Nữ Quân Nhân trong QLVNCH và trong Quân Chủng Không Quân cũng như hai quyển Đặc san Cựu Nữ Quân Nhân 1998 và 2001, phát hành tại Hoa Kỳ do Cựu Trung Tá Nữ Quân Nhân Nguyễn Thị Hạnh Nhơn gởi về cho. Xin chân thành cám ơn NT Nguyễn Thị Hạnh Nhơn và xin mạn phép trích đăng một phần tài liệu liên quan đến NQN/KQ mà NT Nhơn đã từng giữ chức vụ Phân Đoàn Trưởng Nữ Quân Nhân Không Quân từ năm 1969 đến năm 1975. Quý chiến hữu KQ và quý độc giả có thể hiểu biết tường tận hơn về Đoàn NQN/KQ trong cuốn Quân Sử Không Quân QLVNCH.

Tôi gia nhập Quân Chủng Không Quân mộ cách rất tình cờ. Năm 1969, Bộ TTM/QLVNCH nhận được văn thư của Bộ TL/KQ yêu cầu đưa qua một sĩ quan cấp tá Nữ Quân Nhân để chỉ huy số NQN đang phục vụ tại BTL/KQ và các Sư Đoàn I, II, III, IV, V và VI Không Quân..


Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2012

Cuộc chạy trốn cộng sản kinh hoàng trong lịch sử Việt Nam

Trúc Giang MN
1* Mở bài

Mỗi năm, ngày 30 tháng tư gợi lại vết thương đau buồn và mất mát của người Việt hải ngoại, người Việt mất nước, người Việt tỵ nạn, người Việt chạy trốn chế độ độc tài Cộng Sản.

2* Chiến dịch “Gió lốc” (Operation Frequent Wind)

2.1. Chiến dịch Frequent Wind
Chiến dịch Gió lốc (Operation Frequent Wind) là một cuộc di tản bằng trực thăng của Hoa Kỳ và của Việt Nam Cộng Hòa, diễn ra từ ngày 29 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Có 50,493 người, trong đó có 2,548 trẻ mồ côi được di tản từ phi trường Tân Sơn Nhất. Các phi công đã bay tổng cộng 1,054 giờ, với 682 chuyến bay trong chiến dịch. Đã có hơn 7,000 người được di tản bằng trực thăng tại nhiều địa điểm khác nhau ở Sài Gòn.

Ý Nghĩa Lá Cờ Phật Giáo

I. NGUỒN GỐC: Người phát họa ra lá cờ Phật Giáo Thế Giới là ông Henry Steel Olcott, sinh ngày 2-8-1832 tại New Jersey, Hoa Kỳ và mất ngày 17-2-1907 tại Adgar, Ấn Độ. 

Ông nguyên là Đại Tá Hải Quân của Quân Đội Hoa Kỳ. Khoảng năm 1875, ông chưa hề học hỏi về giáo lý nhà Phật, nhưng khi cơ duyên đã tới, ông là phóng viên của tờ báo The New-York Daily Graphic, đã giao cho ông nhiệm vụ gặp một phụ nữ người Nga tên là Helena Petrovna Blavatsky (1831-1891), để viết bài về trường hợp bà nầy có những sự kiện huyền bí. Tại nông trại của Eddys ở New-York, hai người đã gặp nhau, từ đó bà Blavatsky đã hướng dẫn ông trên con đường đạo. 

Bà H.P. Blavatsky, ông H.S. Olcott, ông W. Q. Judge là những người đã thành lập Hội Thông Thiên Học Mỹ Quốc ngày 17-11-1875, nay trở thành Hội Thông Thiên Học Quốc Tế, có 60 nước hội viên và trụ sở đặt tại Adgar, Ấn Độ. 

Ông có công lớn nhất trong công cuộc chấn hưng Phật Giáo Tích Lan, từ đó nhà Phật học uyên thâm Anaragika Dharmapala người Tích Lan, môn đệ của Olcott, đã khôi phục nền Phật Giáo Ấn Độ ngày 21-1-1891, và cũng từ đó dần dần Phật Giáo truyền bá sang phương Tây, rồi lan tràn khắp thế giới. 

Thứ Năm, 3 tháng 5, 2012

Nén nhang nhớ các vị anh hùng An Lộc, thắng giặc Cộng lừng danh thiên cổ

An Lộc, tỉnh lỵ của Bình Long anh dũng, trước đây là một thị trấn nhỏ gọi là Hớn Quản thuộc tỉnh Thủ Dầu Một. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, vì nhu cầu hành chánh, tỉnh Bình Long được thành lập gồm 3 quận Chơn Thành, Hớn Quản, Lộc Ninh. Từ ngày đó, quận Hớn Quản mang tên mới là An Lộc. Quận An Lộc gồm cả thành phố tỉnh lỵ rộng 740 cây số vuông với khoảng 44 ngàn dân, đa số tập trung vào xã Tân Lập Phú.
Tỉnh Bình Long nằm sát biên thùy Kampuchea với diện tích 2,240 cây số vuông, gồm trên 76 ngàn dân . Chung quanh tỉnh lỵ và quận lỵ là những đồn điền cao su ngút ngàn, vài ngọn đồi thoai thoải . Đồi Gió, Đồi 100, Đồi Đồng Long là những cứ điểm quân sự quan trọng bảo vệ thị trấn An Lộc.
Cộng Sản Bắc Việt nhắm vào An Lộc là vì tỉnh Bình Long nằm sát biên giới Kampuchea nơi che dấu những căn cứ địa của Cộng Sản Bắc Việt. Thị trấn này về mặt chiến lược còn nắm vai trò chủ yếu phòng thủ cho Bình Dương và sau đó là thủ đô Sài Gòn. Do đó, tuy An Lộc chỉ là một thị trấn nhỏ bé, nơi đặt cơ sở hành chánh điều hành tỉnh Bình Long, nhưng đã được Cộng Sản Bắc Việt chọn làm mục tiêu tấn công hy vọng đạt một chiến thắng dễ dàng đồng thời tạo một kinh hoàng, đe dọa thủ đô.

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012

Người Lính Gìà Không Bao Giờ Chết

Người Lính Gìà Không Bao Giờ Chết hay chuyện cua Tuớng Douglas MacArthur

Trần xuân Hiền

Nguời Lính Gìa Không Bao Giờ Chết là câu hát của nguời lính Mỹ trong doanh trại thời truớc, nhưng khi câu hát này đuợc thốt ra từ Tuớng Douglas MacArthur khi ông đọc bài điều trần trước luỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ sau khi bị cất chức Tư lịnh tối cao quân đội Hoa kỳ ở Ðông Nam Á và các lực luợng Liên Hiệp Quốc trong cuộc chiến tranh Nam - Bắc Hàn năm 1950, thì trở thành bất hủ. Ông là một trong những vị tuớng 5 sao của Hoa Kỳ đuợc nhiều huy chuơng chiến trường nhất, và ông là một thiên tài quân sự đuợc xem là một Caesar. Nhưng trong một phương diện khác, ông gây ra nhiều ý kiến chống đối, đó là lý do tại sao ông không đuợc bầu làm tổng thống Hoa Kỳ, mà chỉ làm một nguời Lính Già Không Bao Giờ Chết.

Ông sinh truởng trong một gia đình võ nghiệp. Cha ông là tướng chỉ huy lực lượng Hoa Kỳ chiếm đóng Phi luật Tân sau cuộc chiến tranh Hoa Kỳ -Tây Ban Nha 1898. Lúc nhỏ sống trong doanh trại, ông được dự những buổi chào cờ và diễn hành quân cách, nên nuôi giấc mộng làm lính. Ông đuợc gởi học truờng thiếu sinh quân, và lớn lên đuợc thâu nhân vào truờng West Point. Sau khi ra truờng vào năm 1904, ông đuợc gắn cấp thiếu úy ngành công binh, và phục vụ ở Phi Luật Tân để xây cất đường sá và bến tàu, rồi làm sĩ quan tùy viên cho cha. Nhờ đó ông đuợc tháp tùng theo cha trong các cuộc thăm viếng Nhật Bản, Trung Hoa và Singapore, và có nhận định sớm là tương lai quyền lợi Hoa Kỳ không phải ở Au Châu mà là ở các nuớc Á Châu đang giành lại quyền độc lập.

25.04.1975: Trận Chiến Bình Dương

* Giao tranh ở phòng tuyến Bình Dương

Tại khu vực trách nhiệm của Sư đoàn 5 Bộ binh, Cộng quân gia tăng áp lực tại Phú Giáo, Tân Uyên nằm về phía Đông Nam tỉnh Bình Dương. Các đơn vị Địa phương quân và Nghĩa quân tại đây đã bị các trung đoàn Cộng quân của khu Miền Đông tấn công liên tục, cuối cùng phải rời bỏ phòng tuyến.
Tại Bến Sắn, Cộng quân điều động Sư đoàn có bí số CT-7 và 2 trung đoàn cơ động áp sát tuyến phòng thủ của Sư đoàn 5 Bộ binh. Cộng quân muốn chọc thủng mặt Đông của tỉnh Bình Dương và mặt Tây của tỉnh Biên Hòa để tiến về Sài Gòn.

* Tuyến phòng thủ Long An

Tại mặt trận Long An, Sư đoàn 22 Bộ binh, vừa được tái tổ chức sau khi từ Bình Định rút vào Nam, được giao nhiệm vụ phòng thủ vòng đai thị xã Long An và khu vực từ Tân An về Sài Gòn. Các đơn vị của Sư đoàn 22 Bộ binh được đặt thuộc quyền điều động của Biệt khu Thủ đô do Trung tướng Nguyễn Văn Minh làm tư lệnh. Trước tháng 4/1975, chiến trường Long An do Quân đoàn 3 và Quân khu 3 trách nhiệm và Biệt khu Thủ đô (gồm Sài Gòn và tỉnh Gia Định) chịu sự chỉ huy tổng quát của Bộ Tư lệnh Quân khu 3. Từ tháng 4/1975, Biệt khu Thủ đô chịu trách nhiệm cả Long An.