Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa - Nghệ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa - Nghệ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2015

1000 năm trang phục Việt Nam

Nancy Duong

Nancy Dương là một nghệ sĩ có niềm đam mê to lớn dành cho văn hóa Á Đông, đặc biệt là Việt Nam, Nancy Dương đã dùng nét vẽ kỹ thuật số hiện đại để thổi sức sống mới vào các giá trị truyền thống của người Việt.
Để bổ sung cho “Bộ sưu tập một số hình ảnh về 54 Dân tộc Việt Nam” xin trân trọng giới thiệu cùng Quý vị và các bạn!
 

Thứ Ba, 2 tháng 7, 2013

Phân tích các Phong trào Văn nghệ Tranh đấu tại miền Nam từ 1965 đến 1969: Phần 5 - Phong trào Tranh đấu ca

Lê Trương
Đêm 27.9.1968 là đêm hội thảo của Sinh viên Học sinh Sài gòn về chiến tranh Việt Nam. Trụ sở Sinh viên Sài gòn trở nên rộn rịp lạ thường. Họ tập trung đông đảo quanh ngọn lửa hồng. Lửa rực sáng và những người con yêu dân tộc bắt đầu thay phiên nhau bằng giọng nói đanh thép, hùng hồn tấn công những âm mưu chiến tranh diệt chủng và cơ cấu thối nát của chế độ. Những khẩu hiệu được bung ra trong những cánh tay rắn chắt. Sau đó tiếng hát trổi dậy. Họ hát Sử ca, Kháng chiến ca. Nhưng cũng vào đêm hôm đó, một bài ca mới xuất hiện, một bài ca rất nhẹ nhàng nhưng nghe lại vô cùng chua chát, một bài ca làm rung động dư luận trong và ngoài nước với những lời như sau:
Ôi, những viên đạn đồng, thật tươi thật đỏ hồng,
Các nước bạn đồng minh tặng cho dân Việt mình.
Dân Việt cần cơm áo, bạn đồng minh hiếu thảo,
Tăng viện trợ thật cao, những viên đạn đỏ hồng.
Ôi, nhân danh Hoà Bình, ta, nước bạn đồng minh,
Xin ủng hộ hai miền những viên đạn văn minh.
(Viên đạn đồng - Miên Đức Thắng)

Link: 
http://cafevannghe.wordpress.com/2010/01/29/ca-nh%E1%BA%A1c-si-mien-d%E1%BB%A9c-th%E1%BA%AFng/

Phân tích các Phong trào Văn nghệ Tranh đấu tại miền Nam từ 1965 đến 1969: Phần 4 - Phong trào Sử ca, Kháng chiến ca

Lê Trương 

Trong một giai đoạn mà người ta không được nói thẳng cái cảm nghĩ hay thái độ của mình thì họ tìm cách nói gián tiếp, nhưng khi nghe thì ai cũng hiểu được ý muốn của họ. Đó là lý do xuất hiện của Phong trào Sử Ca, Kháng Chiến Ca.
Những bài sử ca như Khúc khải hoàn, Hội nghị Diên Hồng, Bạch Đằng giang, Thăng Long hành khúc, Gò Đống Đa v.v... là những bài gián tiếp chống thực dân trước đây. Đó là những bài dành cho quần chúng đô thị trong cuộc tranh đấu khéo léo, tế nhị. Những bài Kháng chiến ca như Lên đàng, Du kích sông Thao, Tiếng hát sông Lô, An phú đông, Nhạc tuổi xanh, Đường về quê v.v...là những bài dành cho cuộc tranh đấu trực tiếp chống lại thực dân Pháp vừa qua. Cả hai loại nhạc này nay lại được sinh viên học sinh Sài gòn phục sinh thành một phong trào khá rầm rộ nhằm tạo một cuộc tranh đấu gián tiếp tại các đô thị. Chúng tôi gọi đó là phong trào Sử ca, Kháng chiến ca.
1. Đặc tính thứ nhất của phong trào là làm sống lại những trang sử oai hùng.

Phân tích các Phong trào Văn nghệ Tranh đấu tại miền Nam từ 1965 đến 1969: Phần 3 - Phong trào Dân ca

Lê Trương 

Năm 1966 dân ca bộc phát thành một phong trào. Bỗng nhiên giới thanh niên đô thị hướng về dân ca, sưu tầm dân ca, đem dân ca vào tập thể như đem một luồng gió mới. Tất cả những buổi văn nghệ cũng như những sinh hoạt khác đều có dân ca. Ai không biết một câu quan họ Bắc Ninh hay một điệu lý miền Nam là có thể bị chê ngay là xa cách đời sống dân tộc, không biết gì về dân tộc.
Trong những bài dân ca thịnh hành, chúng ta có thể kể đến: Lý ngựa ô, Lý con sáo, Xe chỉ luồn kim, Hát hội trăng rằm, Cây trúc xinh, Qua cầu gió bay v.v...Thanh niên đô thị đua nhau hát những bài đó, tiếng ca của họ là tiếng ca Việt Nam thuần tuý, không thể nhầm lẫn với nhạc Pháp, nhạc Mỹ hay nhạc Việt lai căng. Ngoài dân ca, còn có dân nhạcdân vũ. Họ rất thích thú và hãnh diện khi được nghe dân nhạc Việt Nam, điển hình là buổi trình diễn dân nhạc của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba tại trường Đại học Khoa học.
Phong trào học đàn Đông phương phát triển mạnh mẽ: phái nữ chơi đàn Tranh, đàn Tỳ bà càng ngày càng nhiều, cây Độc huyền cầm (Đàn Bầu) của Việt Nam được đề cao. Dân vũ xuất hiện rất nhiều trong sinh hoạt văn nghệ, điển hình là những màn vũ Lúa thơm đồng xanh diễn tả sinh hoạt cấy cày của nông thôn Việt Nam,màn Tiếng trống hào hùng diễn tả hình ảnh Việt Nam vùng dậy chống xâm lăng. Dân ca, dân vũ, dân nhạc trở thành một loại văn nghệ thời trang quyến rủ.
Phong trào Dân ca đã lớn lên rất mạnh, mang nhiều ý nghĩa đặc biệt. Muốn giải thích sự hiện diện của phong trào này, chúng ta cần phải dựa trên những yếu tố lịch sử xảy ra hồi bấy giờ. Chúng ta có thể nhận thấy rõ ràng đời sống tại các đô thị hoàn toàn bị xáo trộn kể từ khi quân đội ngoại quốc hiện diện trên đất nước ta, trong đó có sự xáo trộn về sinh hoạt văn nghệ. Nhiều sản phẩm lai căng được đẻ ra khiến cho những người có ý thức dân tộc thấy khó chịu đến khổ sở. Họ nhìn đó là những đứa con hoang, con lai phản ảnh một tình trạng mất gốc nô lệ. Họ phản ứng lại bằng cách dùng văn nghệ thuần tuý Việt Nam. Thứ vũ khí sẵn có của dân tộc có thể đem ra dùng ngay được trong hoàn cảnh này chính là Dân ca. Đó là lý do của sự có mặt của phong trào Dân ca.

Phân tích các Phong trào Văn nghệ Tranh đấu tại miền Nam từ 1965 đến 1969: Phần 2 - Phong trào Da Vàng ca

Lê Trương

Vào năm 1966, cuộc chiến Việt Nam trở nên dữ dội hơn. Bom đạn trút xuống quê hương càng ngày càng nhiều, lính ngoại quốc đổ bộ lên đất nước càng ngày càng đông. Những phong trào tranh đấu ở các đô thị bị đàn áp tơi bời. Biến cố miền Trung được mang tên là "một cuộc nội chiến trong một cuộc nội chiến": Máy bay, xe thiết giáp, lính thiện chiến của chính quyền trung ương Sàigòn tấn công các thành phố Huế, Đà nẵng. Giữa lúc đó, cũng chính từ miền Trung, có một chàng lãng tử gầy ốm với vầng trán rộng và nụ cười héo hắt đã mang vào Nam hai bài ca nghe rất buồn thảm: bài Người già em bé và bài Ca dao mẹ. Một đám người tới với chàng, họ ngồi dưới đất, trong bóng tối và hát tuyệt vọng như những người nô lệ da đen đêm đêm ngồi than khóc phận mình. Từ đó, tiếng hát lan ra khắp các đô thị, tới đâu nó cũng đi sâu vào lòng người, làm rung lên như một dây đàn từ lâu chờ người gảy. Phong trào càng ngày càng dâng lên cao, nhất là sau biến cố Mậu Thân để rồi không có một sức mạnh nào ngăn cản nổi nữa. Chúng tôi gọi đó là phong trào DA VÀNG CA.
Năm 1966, cuộc chiến Việt Nam lại được mang thêm một tên mới: Chiến tranh diệt chủng. Tất cả khả năng cơ khí của nền văn minh Tây phương đều được tận dụng vào cuộc giết người rất khủng khiếp này. Nông dân Việt Nam đã chịu đựng cảnh bom đạn trong nhiều năm nay, càng ngày sức tàn phá của chiến tranh lại càng gia tăng.
Trịnh Công Sơn
Trịnh Công Sơn đã mô tả sự bi đát hãi hùng của thân phận da vàng Việt Nam trong những lời ca sau:
Từng chuyến bay đêm, con thơ giật mình,
Hầm trú tan hoang, ôi da thịt vàng...
Hàng vạn tấn bom trút xuống đầu làng,
Cửa nhà Việt Nam cháy đỏ cuối thôn.

Phân tích các Phong trào Văn nghệ Tranh đấu tại miền Nam từ 1965 đến 1969: Phần 1 - Phong trào Tâm ca

Lê Trương 

Vào năm 1965, cuộc diện chiến tranh Việt Nam thay đổi đột ngột. Lính ngoại quốc bắt đầu đổ bộ lên Việt Nam, không lực Hoa kỳ khởi sự trút bom xuống miền Bắc. Giữa lúc đó tại các đô thị miền Nam, một phong trào văn nghệ xuất hiện, lôi cuốn các giới trí thức, già trẻ một cách mãnh liệt. Đâu đâu cũng nghe người ta hát TÂM CA; hết đoàn thể này đến đoàn thể khác liên tục tổ chức những chương trình Tâm Ca. Mọi người say mê thở không khí Tâm Ca, dù là người Phật giáo, người Công giáo, dù là người chống hay không chống chế độ Bắc Việt. Rồi qua những cuộc tranh đấu, Tâm Ca trở thành một phong trào bao trùm nhiều giới quần chúng. Chúng tôi gọi đó là phong trào TÂM CA PHẢN CHIẾN, chữ phản chiến hiểu theo nghĩa không muốn chiến tranh, cho dù là loại chiến tranh nào. Dựa vào hoàn cảnh lịch sử, dựa vào thái độ của người nghe, người hát cũng như dựa vào âm nhạc và lời ca, chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa của phong trào văn nghệ này như thế nào.

Thứ Hai, 3 tháng 12, 2012

Lễ tạ ơn tại Hoa kỳ

Giao chỉ - San Jose -2012

 

 

       Quả thực người Mỹ đã có đầy đủ lý do để giữ gìn truyền thống với ngày Lễ Tạ ơn vào tháng 11 mỗi năm.
       Lịch sử ghi rằng vào năm 1620 có một nhóm gia đình người Anh theo Tin Lành đã đi tìm đất mới  để sống đời tự do tín ngưỡng. 

        
                                           Con tàu May Flower lịch sử
       Con tàu May Flower nổi danh vượt Đại Tây Dương chở di dân với các niềm tin giáo lý khác nhau đến vùng Plymouth Rock của tiểu bang Massachusetts bây giờ.  Nhóm gia đình người Anh chỉ có hơn ba chục, số còn lại là phần đông thủy thủ đoàn. Tổng số 102 người. 

Thứ Năm, 20 tháng 9, 2012

Mùa thu và người nghệ sĩ

TÌNH KHÚC MÙA THU

Mùa Thu Cho Em

 Ngô Thụy Miên Em có nghe mùa thu mưa giăng lá đổ em có nghe nai vàng hát khúc yêu đương Và em có nghe khi mùa thu tới mang ái ân mang tình yêu tới em có nghe nghe hồn thu nói mình yêu nhau nhé Em có hay mùa thu mưa bay gió nhẹ em có hay thu về hết dấu cô liêu Và em có hay khi mùa thu tới bao trái tim vương màu xanh mới em có hay hay mùa thu tới hồn anh ngất ngây nắng úa dệt mi em và mây xanh thay tóc rối nhạt môi môi em thơm nồng tình yêu vương vương má hồng sẽ hát bài cho em và ru em yên giấc tối ngày mai khi mưa ngang lưng đồi chờ em anh nghe mùa thu tới Em có mơ mùa thu cho ai nức nở em có mơ mơ mùa mắt ướt hoen mi Và em có mơ khi mùa thu tới hai chúng ta sẽ cùng chung lối em với anh mơ mùa thu ấy tình ta ngát hương

Thứ Bảy, 15 tháng 9, 2012

Kỹ sư GUSTAVE EIFFEL

image
 
Ngày 10-10-1889, khi tới thăm Tháp Eiffel, nhà phát minh trứ danh người Mỹ Thomas Edison đã viết vào sổ vàng lưu niệm ở đây những lời lẽ trân trọng đến mức tưởng như không còn gì đáng trân trọng hơn:
 
Xin gửi tới Ngài Eiffel,
Công Trình Sư dũng cảm đã xây dựng nên mô hình khổng lồ và kỳ diệu của công nghệ hiện đại,
lòng kính trọng và sự ngưỡng mộ cao nhất của tôi dành cho tất cả các kỹ sư (đã tham gia xây dựng Tháp),
bao gồm Ngài Kỹ Sư Vĩ Đại.
Vị Chúa Tốt Lành,
 
Ký tên: Thomas Edison.
 

Thứ Bảy, 8 tháng 9, 2012

Nguyễn Mộng Giác, trong tình thân và nỗi thương tiếc!

Mang Viên Long

         Năm 1962 – Nguyễn Mộng Giác tốt nghiệp trường ĐHSP Huế, được về dạy Văn tại trường nữ Trung học Đồng Khánh (1962 – 1963). Tại đây – anh đã gặp người bạn đời là chị Nguyễn Khoa Diệu Chi. Sau đó, năm 1964  -  được chuyễn về làm Giám học trường Trung học Cường Đễ Qui nhơn, cũng là năm tôi kết thúc năm học cuối ở ngôi trường thân yêu nầy. Năm ấy – anh cũng vừa có người con gái đầu lòng là Nguyễn Thụy Dao Tiên.
         Tôi ghi danh học Luật Saigon, và thi vào trường Quốc Gia sư phạm Qui nhơn – khóa 3. Ra trường, tôi về dạy tại Tuy Hòa (Phú Yên). Sau dó,  Nguyễn Mộng Giác giữ chúc vụ Hiệu Trường Cường Đễ,  mãi lo ổn định công việc, anh chưa tham gia viết cho các tạp chí văn học nghệ thuật ở Saigon nhiều. Anh thật sự đựợc giới cầm bút bấy giờ biết đến như một tài năng trẻ sung mãn ở tạp chí Bách Khoa sau nhiều truyện ngắn, truyện dài – và các bài biên khảo sau năm 69. Tôi quen anh Nguyễn Mộng Giác từ dạo ấy…
          Năm 1971 – Nguyễn Mộng Giác được thăng chuyễn về làm Chánh sở học chánh Bình Định theo sự đổi mới của Bộ GD gom 3 cấp học ( tiểu học – cấp 2 và cấp 3) về một tổ chức quản lý – điều hành là Sở Học Chánh.

Tiểu thuyết gia Dương Thu Hương sẽ phải lưu vong ở Paris thêm một thời gian nữa

Graeme Mackay(Thủy Trúc dịch)
Một bài điểm sách của Jason Beerman đăng trên tờ Toronto Star số ra hôm thứ bảy, 1-9-2012 nhắc tôi nhớ tới chủ nghĩa cộng sản trên lý thuyết và trong thực tế có thể xa nhau hàng dặm. “Đỉnh cao chói lọi” giờ đã được dịch sang tiếng Anh, đó là một cuốn sách đã được tiểu thuyết hóa, mô tả cuộc đời của ông Hồ Chí Minh, do nữ nhà văn nổi tiếng Việt Nam, Dương Thu Hương viết. Nổi tiếng là ở bên ngoài Việt Nam, đất nước mà Thu Hương cùng các tác phẩm của bà không được chính quyền chấp nhận, và hiện giờ bà đang sống lưu vong ở Paris.
Sinh năm 1947 ở Thái Bình, cách Hà Nội khoảng 70 dặm (khoảng 112km – ND), nguyên là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Thu Hương tham gia đội nữ thanh niên xung phong từ năm 1967 trong “Kháng chiến Chống Mỹ”, đến năm 1975 khi Việt Nam thống nhất, và rồi lại tiếp tục với cuộc chiến ngắn ngủi chống Trung Quốc năm 1979. Bà tham gia nhiều hoạt động trên tiền tuyến, ở đó nhiệm vụ của bà là chăm sóc thương binh, chôn cất người chết, và bà bị điếc tai phải do có một lần bị bom nổ ở rất gần, trong thời gian chiến tranh đó.

Thứ Ba, 7 tháng 8, 2012

Những học giả mở đường cho thuyết Việt nho

KIM ĐỊNH

Có vài bạn rất hoan nghênh triết thuyết Việt Nho  theo nghĩa an vi , nhưng muốn tôi từ bỏ Việt Nho theo nghĩa thứ hai là Nho của Lạc Việt , vì quá động trời , không những trái với sử sách mà còn có thể gây bất tiện  hoặc làm trò cười cho người, vì sợ tôi nói ẩu theo lòng ái quốc quá khích chứ không có căn cứ khoa học . Mấy bạn đó muốn đã viết ra là phải viết sao cho quốc tế đọc, chứ không chỉ viết cho người mình. Ðó là những lo ngại do cảm tình với chúng tôi , vì thế mới có những giòng này để các bạn đó yên tâm.

Trước hết tôi thấy không có gì gọi được là di hại cho ai cả. Trước hết là riêng cho tôi vì đó chỉ là giả thuyết có chiếm nhiều lắm cũng mới chừng 10 %  trong công trình chung của tôi, nếu sau này có ai bác được thì triết thuyết an vi vẫn còn đó, vì hai đàng có nền tảng độc lập .

Thứ đến cũng không có di hại cho sinh viên , vì theo tôi thì đại học không những truyền đạt những tri thức đã sở đắc mà còn phải tìm thêm những chân trời mới . Mà đã nói tìm cái mới thì phải đặt giả thuyết làm việc  để hướng dẫn sự tìm kiếm. Sau này nếu không bị loại bỏ thì giả thuyết trở thành một chủ thuyết, tức là mở rộng thêm chân trời, còn nếu bị bác bỏ thì cũng còn lại được một số khám phá.  Ðó là nhiệm vụ của đại học. Ðưa ra lý thuyết rồi lại đem ra một thí dụ để thực tập, sai đâu sửa đó . Thế thì có chi di hại đâu .   Nhất là tôi chỉ coi đó là phần phụ nên ít khi đem ra thuyết trinh ở đại học.  Ðôi khi có nói đến thì cũng phớt qua, và là những lúc giải trí. Vì tuy chỉ là một thử thách đi tìm cái mới đưa ra cho sinh viên  tập làm việc, nhưng vì chiến tranh liên miên, nên trình độ sinh viên chưa đủ sức với tới và nhất là tài liệu quá thiếu thốn không đủ tạo điều kiện làm việc , nên tôi giảng về triết thuyết an vi quá 90 % , còn Việt Nho chỉ lâu lâu nhắc đến cho vui, chờ đợi thời bình sẽ đi sâu .

Khẳng định niềm tự hào dân tộc từ thông điệp văn hóa cổ

Dạ Miên

Các nghiên cứu của triết gia Lương Kim Định

Tọa đàm về triết gia Lương Kim Định nhân 15 năm ngày mất của ông:Ngày 14/7, buổi tọa đàm về triết gia Kim Định, nhà nghiên cứu cổ văn hóa Sử Việt Nam, một gương mặt văn hóa lớn của đất nước, đã diễn ra tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội, nhân 15 năm ngày mất của ông.
Gần 30 nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử đã có tham luận: GS.TSKH Trần Ngọc Thêm, TS Trần Ngọc Linh, nhà nghiên cứu Hà Văn Thùy, nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh, GS sử học Chương Thâu..vv…

Buổi tọa đàm diễn ra tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám

GS Lương Kim Định quê ở Nam Định, từng giảng dạy ở Việt Nam trước khi du học sáng Pháp, Mỹ. Những năm cuối đời sống ở nước ngoài, nghiên cứu cổ sử Việt vẫn là đam mê của ông và ông đã để lại một di sản văn hóa đồ sộ hơn 40 đầu sách về các lĩnh vực triết học, văn hóa, cổ sử Việt Nam… Những dự đoán tài tình của ông, ngày càng được khoa học liên ngành khảo cổ, cổ thư, nhân chủng xác minh là có cơ sở, đã cho thấy đóng góp của ông trong công cuộc truy tìm cổ văn hóa sử và minh triết của Việt tộc.

Thứ Tư, 18 tháng 7, 2012

Vinh danh Nguồn Sáng

. Đinh Tấn Lực
Một hạt rượu rơi
Trái đất nghiêng say
Mẩu giấy vụn
Tôi vẽ con diều bay bổng

Phùng Cung (trang dạo của tập Xem Đêm – 1995 nxb Văn Hóa-Thông Tin)
Truyện ngắn Con Ngựa Già Của Chúa Trịnh được đăng lần đầu trong tập san Nhân Văn số 4, tháng 10-1956. Ngay sau đó, nhà thơ Phùng Cung, người viết truyện, đã bị đấu tố tả tơi bởi hội đồng cai văn nghệ đương thời, rồi bị tước mất biên chế, và dõi suốt 140 bận nhìn ánh trăng rằm qua song sắt các nhà tù Hỏa Lò, Bất Bạt, Bảo Thắng, Phong Quang, Yên Bái, Lai Khê…

Thứ Tư, 9 tháng 5, 2012

Bí quyết trường xuân qua ca dao tục ngữ

Người xưa tuổi thọ kém, ai sống tới bảy mươi đã cho là hiếm hoi, nhân sinh thất thập cổ lai hi. Ðã vậy, nhiều người suốt đời chỉ hùng hục làm việc, chạy theo bả lợi danh, bo bo giữ của không biết hưởng đời là gì, tới khi già yếu, sắp xuôi tay nhắm mắt, tính sổ cuộc đời mới thấy là dại:

Một năm là mấy tháng xuân
Một đời phỏng được mấy lần vinh hoa?

Chẳng ăn, chẳng mặc, chẳng chơi
Bo bo giữ lấy của trời làm chi?
Bẩy mươi chống gậy ra đi
Than thân rằng thuở đương thì chẳng chơi.

Từ đó, người xưa rút kinh nghiệm, để lại cho con cháu biết bao là lời khuyên bảo chí lý, không ngoài mục đích khuyến khích chúng ta hãy biết tận hưởng những hương vị của cuộc sống ngay từ thuở thanh niên son trẻ, cùng cho chúng ta bí quyết để kéo dài tuổi xuân:

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2012

Nhật Bản: Ngôi chùa của những giấc mơ - Một công trình kiến trúc Phật Giáo đồ sộ

Royal Grand Hall - Hùng Nghiêm Đại Điện Phật Giáo ở Quận hạt Hyogo, Nhật Bản dường như sẽ phá nhiều kỷ lục trên thế giới. Hyogo, Japan -- Sau nhiều năm và hai lần thất bại, Dr. Kyuse Enshinjoh, tu sĩ sáng lập giáo phái Phật Giáo Nenbutsushu, đã tìm thấy khu đất phù hợp cho một ngôi chùa theo mong ước của ông, và những tín đồ cũng như các thành viên cùng nỗ lực hiện thực ước mơ của vị lãnh đạo tâm linh của họ. 

Tọa lạc ở trung tâm Nhật Bản trong vành đai Công Viên Quốc Gia Seto Inland Sea , 148 ha đất được vây bọc chung quanh bởi 8 ngọn núi, thành hình một đóa sen tám cánh. Truyền thuyết về khu vực này được biết đến qua danh xưng "Thung Lũng Mãng Xà"

Ý Nghĩa Lá Cờ Phật Giáo

I. NGUỒN GỐC: Người phát họa ra lá cờ Phật Giáo Thế Giới là ông Henry Steel Olcott, sinh ngày 2-8-1832 tại New Jersey, Hoa Kỳ và mất ngày 17-2-1907 tại Adgar, Ấn Độ. 

Ông nguyên là Đại Tá Hải Quân của Quân Đội Hoa Kỳ. Khoảng năm 1875, ông chưa hề học hỏi về giáo lý nhà Phật, nhưng khi cơ duyên đã tới, ông là phóng viên của tờ báo The New-York Daily Graphic, đã giao cho ông nhiệm vụ gặp một phụ nữ người Nga tên là Helena Petrovna Blavatsky (1831-1891), để viết bài về trường hợp bà nầy có những sự kiện huyền bí. Tại nông trại của Eddys ở New-York, hai người đã gặp nhau, từ đó bà Blavatsky đã hướng dẫn ông trên con đường đạo. 

Bà H.P. Blavatsky, ông H.S. Olcott, ông W. Q. Judge là những người đã thành lập Hội Thông Thiên Học Mỹ Quốc ngày 17-11-1875, nay trở thành Hội Thông Thiên Học Quốc Tế, có 60 nước hội viên và trụ sở đặt tại Adgar, Ấn Độ. 

Ông có công lớn nhất trong công cuộc chấn hưng Phật Giáo Tích Lan, từ đó nhà Phật học uyên thâm Anaragika Dharmapala người Tích Lan, môn đệ của Olcott, đã khôi phục nền Phật Giáo Ấn Độ ngày 21-1-1891, và cũng từ đó dần dần Phật Giáo truyền bá sang phương Tây, rồi lan tràn khắp thế giới. 

Thứ Năm, 3 tháng 5, 2012

Đọc sách Xóm đạo của tác giả Nguyễn Ngọc Ngạn

TRƯƠNG PHÚ THỨ
 
Cuốn sách được gọi là tiểu thuyết có tên Xóm Đạo lấy bối cảnh của một trại di cư mà đại đa số là tín hữu công giáo từ miền bắc vừa mới chân ướt chân ráo chạy vào nam lánh nạn cộng sản.  Hình bìa cuốn sách dầy hơn sáu trăm trang của họa sĩ Nguyễn Thị Hợp đã thể hiện một cách chính xác nội dung của cả cuốn sách.  Bức tranh vẽ một người đàn ông ngồi tư lự bên cạnh một người đàn bà nẳm trên giường suy nghĩ mông lung.  Phía sâu xa xa của bức tranh là ngôi nhà thờ im bóng dưới ánh trăng.  Ngôi nhà thờ chỉ là một cái bóng mờ sau hai thân hình  với những tư lự và nhiều khúc mắc.  Nhìn vào bức tranh ngay trên mặt bìa trước độc giả chắc hẳn sẽ không kỳ vọng vào những kỷ niệm xa xưa dưới bóng của ngôi thánh đường và những sinh thái cá biệt của một cộng đồng những người “có đạo” quây quần nhau dưới cây thánh giá.  Cuộc sống vui buồn và những tất bật của giáo dân có rất nhiều chuyện, nhiều hình ảnh phải được nói đến và trình bầy đến từng khía cạnh của một tập thể rất phức tạp của những người từ nhiều địa phương khác nhau ở miền bắc vừa đặt chân đến miền đất mới mưa nắng hai mùa.  Sinh thái của một xóm đạo bao bọc bởi lũy tre xanh với những con chiên ngoan đạo ở một làng quê miền bắc và những khác biệt nhiều khi chống đối lẫn nhau của nhiều nhóm người  từ nhiều địa phương với cuộc sống mới ở miền nam lại càng lắm chuyện, nhiều vấn đề cần được nói đến.

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012

"Ngày khốn nạn", thư của Nguyễn Bá Chổi


(Thư gửi Nhà văn MC Nguyễn Ngọc Ngạn)
Kính anh Nguyễn Ngọc Ngạn,
Trước hết, tôi xin phép gọi bằng anh thay vì ông ở chỗ chưa quen nhau, bởi tôi viết thư này với tư cách một người cựu binh gửi một cựu binh năm xưa cùng chung một ngọn cờ chiến đấu, mà cho tới thời gian gần đây anh vẫn khẳng định lại quá khứ mình trên sân khấu Trung tâm Thúy Nga Paris by Night; dù trên mình chúng ta không còn bộ quân phục, nhưng tình huynh đệ chi binh ngày nào dễ gì mất theo được, phải thế không Anh.
Sở dĩ tôi viết cho Anh thư này, một lá thư mà người gửi chẳng muồn viết, người nhận tôi đoán càng chẳng muốn đọc, là do tình cờ tôi bắt gặp trên internet cái hình quảng cáo dưới đây :

Giá không có tôi

Nguyễn Ngọc Ngạn
Ông Sĩ Nguyễn, đại diện tờ Sài gòn Nhỏ tại Minnesota, là một bầu show chuyên nghiệp, tính tình hòa nhã, rộng rãi và lịch sự, nghệ sĩ ai cũng cảm mến. Ngoài việc tổ chức shows, Sĩ cũng thường tự nguyện phụ giúp các chương trình Hội Chợ Tế hoặc Đại Hội Thánh Mẫu, dù phải bay đi khá xa. Người ta cũng nhớ Sĩ Nguyễn từng làm show Cám Ơn Anh, thu được khá nhiều tiền cho thương phế binh QLVNCH.
Ông NNN giới thiệu thế này thì hại ông Sĩ rồi ! NNN nói ông Sĩ "là một bầu show chuyên nghiệp". Việc ông tham gia tổ chức những chương trình từ thiện không có nghĩa là ông có tinh thần quốc gia, lại càng không thể chứng tỏ rằng ông có tinh thần chống cộng.
Một người có tinh thần Quốc Gia , không ai có thể vui mừng tổ chức Đại nhạc hội vào ngày tang đất nước.
Dù cho có là người vô cảm đi nữa, cũng phải biết ngày 30/4 đối với cọng đồng tỵ nạn là ngày không thể nào vui.