Thứ Ba, 13 tháng 9, 2011
Thứ Năm, 8 tháng 9, 2011
Việc sử dụng triện son - Kỳ 8 (kỳ cuối)
Thư Tâm Điêu Long.
01 - 57 (61).
(Kỳ 8)
(6). Ngô phái.
Ngô Xương Thạc khai sinh. Buổi đầu Ngô Xương Thạc học Tiền Tùng (1818 - 1860), tiếp đó học Ngô Hi Tái, sau đó quán được điều gọi là 'Ấn ngoại cầu Ấn' của Đặng Thạch Như, và để từ đây đưa Thạch cổ văn cũng như văn tự cổ trên các dấu Ấn bằng đất sét, gạch ngói nhập Ấn, tự thành một phong cách riêng.
Ấn của Ngô Xương Thạc chế tác vừa có vẻ cổ xưa vụng về vừa có vẻ rất mới lạ, vẻ mới lạ này đã phát sinh là do vẻ cổ xưa vụng về đã đạt cực điểm.
Phong cách chế tác Ấn của Ngô Xương Thạc được rất nhiều người học theo, ảnh hưởng của ông rất lớn, cho đến hiện nay vẫn không suy giảm, nhất là đối với giới Triện khắc Nhật Bản.
Ngoài các phái chủ yếu trên đây, còn 1 số Phái khác, như:
(1). Bồ Điền phái.
Tống Giác (1576 - 1632) khai sáng vào cuối Minh triều. Tống Giác người ở huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến, vì vậy Phái này được gọi là Phái Bồ Điền, hay còn gọi là Mân phái, vì biệt danh của tỉnh Phúc Kiến là Mân.
Tống Cổ về Việt Nam Ăn…
Kiều Phong
Ông Võ văn Ái là chủ nhiệm tờ Quê Mẹ. Ông Nguyễn viết Ty là chủ nhiệm tờ Đoàn Kết. Cả hai tờ cùng xuất bản ở thủ đô nước Pháp nhưng lập trường đối nghịch nhau như sáng với tối, như địa ngục và thiên đường, như chiến sĩ quốc gia và bồi bút Cộng sản.
Tờ Quê Mẹ, như phần lớn những tờ báo của người Việt lưu vong, thường đem tội lỗi của Đảng Cộng sản Việt nam ra phân tích cặn kẽ, châm trích cay nghiệt. Tờ Đoàn Kết thì như tất cả những tờ báo của những đảng viên cộng sản trẻ tuổi, đang lớn, ra công bảo vệ sự sáng suốt của Đảng cũng như sự rực rỡ tên vàng của bác Hồ, khoe khoang nước giàu dân mạnh, Việt nam đói rách hiện nay chính là đuốc soi đường cho nhân loại…
Việc sử dụng triện son - Kỳ 7
Thư Tâm Điêu Long.
01 - 57 (61).
(Kỳ 7)
Thư học, Khải thư, Hành thư và Thảo thư của Đổng Kỳ Xương đều nổi bật ở nét 'mí, đặc biệt là thể Hành thảo. Có điều, cái 'mí kể trên không là 1 cái 'mí 'Tĩnh' mà là cái 'mí 'Động', có lúc 1 chữ, thậm chí vài ba chữ, nét này dính vào nét kia, chữ này tiếp liền chữ kia như sợi tơ, khí vận quán thông, hoặc giả hình đã dứt mà thần còn vương, lặng ngắm thì hoặc như tụ, như tán, tình ý triền miên.........
Về Thư pháp, Đổng Kỳ Xương lưu lại rất nhiều tác phẩm, kể 1 số tác phẩm tiêu biểu:
'Xích Độc' - 'Thí Mặc Thiếp' - 'Luận Thư Sách' - 'Luận Họa Sách' - 'Thất Tuyệt Thi Trục' - 'Lý Bạch Nguyệt Hạ Độc Chước Thi Quyển' - 'Đỗ Phủ Túy Ca Hành Quyển'......
Đổng Kỳ Xương có tên Tự là Huyền Tể, tên Hiệu là Tư Bạch, Hương Quang Cư Sĩ, nguyên quán huyện Hoa Đình, phu? Tùng Giang, tỉnh Giang Tộ
Đổng Kỳ Xương và 3 Thư pháp gia nữa đại khái cùng thời được gọi là 'Tứ Đại giá:
Hình Đồng (1551 - 1612), Đổng Kỳ Xương (1555 - 1636), Mễ Vạn Chung (1570 - 1628) kế đó là Trương Thụy Đồ (1570 - 1644).
Tuy nhiên, đương thời thì như vậy, còn theo nhận định của các nhà phê bình sau này, 3 danh gia kể trên kém xa Đổng Kỳ Xương.
Việc sử dụng triện son - Kỳ 6
Thư Tâm Điêu Long.
01 - 57 (61).
(Kỳ 6)
Sơ kỳ Đường triều có 4 Thư pháp gia lớn:
Âu Dương Tuân (557 - 641), Ngu Thế Nam (558 - 638), Trữ Toại Lương (596 - 658), rồi kế đó là Tiết Tắc (649 - 713).
Giai đoạn này Khải thư (Chân thư) là giòng chính , và cả 4 Thư pháp gia trên đây đều sở trường Thư thể này, Thư pháp của 4 người được coi là tiêu chuẩn cho thể Chân thự
Ngoài ra còn có Tôn Quá Đình (648 - 703) cũng là một Thư pháp gia trứ danh, tinh diệu các thể Chân, Hành, Thảo, nhất là Thảo thư. Tôn Quá Đình soạn cuốn 'Thư Phố, từ trước tới nay được coi là tác phẩm tiêu chuẩn về Thư pháp.
(2). Thịnh Đường và Trung Đường.
Thư pháp gia tiêu biểu cho giai đoạn này có:
Lý Ung (675 - 747), Trương Húc (675 - 750).
Lý Dương Băng (722 - 789), Hoài Tố (725 - 799), Nhan Chân Khanh (709 - 785).
Sự nguy hại của chính sách “Ngoại Giao Đu Dây”
Theo cơ chế điều hành của đảng CSVN, thì quyền quyết định một đường lối ngoại giao đối với một số quốc gia không phải do thủ tướng chính phủ quyết định mà do Bộ Chính Trị (BCT) là Cơ quan đầu não của đảng CSVN ấn định và chính phủ phải thi hành. Đường lối ngoại giao lúc ngã bên nầy, lúc nghiêng bên kia được một số nhà ngoại giao gọi là “Đu dây”. Đường lối ngoại giao “quái dị”nầy cũng không phải mới mẻ gì tại Việt Nam như hiện nay, mà đã được áp dụng từ thời mồ ma Hồ Chí Minh khi cần phải cổ vũ viện trợ tối đa từ hai đàn anh Cộng Sản Quốc Tế(CSQT) là Liên Xô và Trung Cộng trong thập niên 50-70.[1]
Thục ra đó cũng không phải là sáng kiến hay ho gì của Hồ, mà là do sự tranh giành ảnh hưởng của hai tên sừng sõ trong phe CSQT muốn dùng viện trợ quân sự như một miếng mồi nhữ cho tên thuộc hạ CSVN phải chạy theo ý đồ của phe mình mà thôi!.
Gần đây dưới áp lực gây hấn ngày càng mạnh bạo của Trung Cộng, cho dù CSVN lúc nào cũng dùng “16 chữ vàng” như là một lá bùa hộ mạng khi ứng xử với quan thầy. Đồng thời dưới áp lực của toàn dân Việt không chấp nhận lối “ngoại giao hèn hạ” của nhà cầm quyền CSVN và đòi hỏi VN phải có sự quan hệ rộng rãi với các cường quốc khu vực và nhất là với Hoa Kỳ để tạo một lực đối kháng ngăn chận dã tâm thôn tính Việt Nam của Trung Cộng. Cho nên BCT/CSVN bèn lôi cái chính sách “quái dị” nầy ra ngỏ hầu cứu đảng ra khỏi cơn rối ren chính trị hiện nay.
Đừng đứng nhìn
sáng tác : Nhạc sĩ TB
Đừng đứng nhìn , đừng đứng nhìn , đừng đứng nhìn , hỡi đồng bào ơi
hãy xuống đường ,hãy xuống đường , hãy đứng lên đòi lại tự do
cùng nhau ta đứng lên kêu gọi người Việt Nam chung nhau giống nòi
cả toàn dân hãy đứng lên mà đi...
đừng đứng nhìn , đừng đứng nhìn , đừng đứng nhìn , hỡi đồng bào ơi
hãy xuống đường ,hãy xuống đường , hãy đứng lên đòi lại tự do
giặc nội xâm giết bao dân lành , giặc ngoại xâm chiếm quê hương mình
còn chờ chi hãy đứng lên đồng bào ơi...
Đừng đứng nhìn , đừng đứng nhìn , đừng đứng nhìn , hỡi đồng bào ơi
hãy xuống đường ,hãy xuống đường , hãy đứng lên đòi lại tự do
cùng nhau ta đứng lên kêu gọi người Việt Nam chung nhau giống nòi
cả toàn dân hãy đứng lên mà đi...
đừng đứng nhìn , đừng đứng nhìn , đừng đứng nhìn , hỡi đồng bào ơi
hãy xuống đường ,hãy xuống đường , hãy đứng lên đòi lại tự do
giặc nội xâm giết bao dân lành , giặc ngoại xâm chiếm quê hương mình
còn chờ chi hãy đứng lên đồng bào ơi...
Việc sử dụng triện son - Kỳ 5
Thư Tâm Điêu Long.
01 – 57 (61).
(Kỳ 5)
2). Lệ thư.
Dưới triều Tần, nhân ‘quan ngục đa sứ, lại thiếu người ghi chép việc tố tụng cho nên quan chức đã phải sai tội nhân (lệ nhân) phụ việc giấy tờ, sổ sách.
Tội nhân là những kẻ không biết viết, do đó nét chữ cũng biến dạng. Nhưng, so với chữ Đại triện đang sử dụng lúc bấy giờ thì thứ chữ này giản tiện hơn nhiều, bởi vậy, ngay buổi đầu cũng đã có người sử dụng, và một khi đã thông hành thì không thể bỏ được.
Những tội nhân ghi chép việc tố tụng nói trên đây chỉ cần sao viết được ra giấy là đủ, chẳng cần phải viết đẹp! Tuy nhiên, một khi thứ Chữ giản tiện này đã thông hành thì người viết thứ chữ này không những chỉ hạng tội nhân thất học mà bao gồm cả giới học thức, cho nên dần dà Lệ thư đã được cải biến thành một hình thức mĩ thuật hơn.
Việt Nam tôi đâu
Nhóm Tuổi Trẻ Yêu Nước Thân gửi đến quý vị nhạc phẩm Karaoke Việt Nam Tôi Đâu do chính ca nhạc sĩ Việt Khang trình bày, từng lời nhạc mang trong người nỗi đau khi nhìn thấy đất nước bị nhưng tên csvn nhu nhượt bán đất cho ngoại bang
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






