Thứ Ba, 7 tháng 8, 2012

Phải vượt lên trên nỗi sợ hãi

Huỳnh Thục Vy (Danlambao) - Ba giờ chiều ngày 4 tháng 8 năm 2012, anh chị em chúng tôi rời chỗ trọ ở đường Thanh Long, đi vòng theo các con phố Đà Nẵng hướng về Quảng Nam. Gia đình tôi có việc nhà nên cuối tuần ra đây, chúng tôi không có ý định biểu tình vì cho rằng sẽ không thể có một cuộc biểu tình ở thành phố nổi tiếng "yên tĩnh" này.

Những học giả mở đường cho thuyết Việt nho

KIM ĐỊNH

Có vài bạn rất hoan nghênh triết thuyết Việt Nho  theo nghĩa an vi , nhưng muốn tôi từ bỏ Việt Nho theo nghĩa thứ hai là Nho của Lạc Việt , vì quá động trời , không những trái với sử sách mà còn có thể gây bất tiện  hoặc làm trò cười cho người, vì sợ tôi nói ẩu theo lòng ái quốc quá khích chứ không có căn cứ khoa học . Mấy bạn đó muốn đã viết ra là phải viết sao cho quốc tế đọc, chứ không chỉ viết cho người mình. Ðó là những lo ngại do cảm tình với chúng tôi , vì thế mới có những giòng này để các bạn đó yên tâm.

Trước hết tôi thấy không có gì gọi được là di hại cho ai cả. Trước hết là riêng cho tôi vì đó chỉ là giả thuyết có chiếm nhiều lắm cũng mới chừng 10 %  trong công trình chung của tôi, nếu sau này có ai bác được thì triết thuyết an vi vẫn còn đó, vì hai đàng có nền tảng độc lập .

Thứ đến cũng không có di hại cho sinh viên , vì theo tôi thì đại học không những truyền đạt những tri thức đã sở đắc mà còn phải tìm thêm những chân trời mới . Mà đã nói tìm cái mới thì phải đặt giả thuyết làm việc  để hướng dẫn sự tìm kiếm. Sau này nếu không bị loại bỏ thì giả thuyết trở thành một chủ thuyết, tức là mở rộng thêm chân trời, còn nếu bị bác bỏ thì cũng còn lại được một số khám phá.  Ðó là nhiệm vụ của đại học. Ðưa ra lý thuyết rồi lại đem ra một thí dụ để thực tập, sai đâu sửa đó . Thế thì có chi di hại đâu .   Nhất là tôi chỉ coi đó là phần phụ nên ít khi đem ra thuyết trinh ở đại học.  Ðôi khi có nói đến thì cũng phớt qua, và là những lúc giải trí. Vì tuy chỉ là một thử thách đi tìm cái mới đưa ra cho sinh viên  tập làm việc, nhưng vì chiến tranh liên miên, nên trình độ sinh viên chưa đủ sức với tới và nhất là tài liệu quá thiếu thốn không đủ tạo điều kiện làm việc , nên tôi giảng về triết thuyết an vi quá 90 % , còn Việt Nho chỉ lâu lâu nhắc đến cho vui, chờ đợi thời bình sẽ đi sâu .

Khẳng định niềm tự hào dân tộc từ thông điệp văn hóa cổ

Dạ Miên

Các nghiên cứu của triết gia Lương Kim Định

Tọa đàm về triết gia Lương Kim Định nhân 15 năm ngày mất của ông:Ngày 14/7, buổi tọa đàm về triết gia Kim Định, nhà nghiên cứu cổ văn hóa Sử Việt Nam, một gương mặt văn hóa lớn của đất nước, đã diễn ra tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội, nhân 15 năm ngày mất của ông.
Gần 30 nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử đã có tham luận: GS.TSKH Trần Ngọc Thêm, TS Trần Ngọc Linh, nhà nghiên cứu Hà Văn Thùy, nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh, GS sử học Chương Thâu..vv…

Buổi tọa đàm diễn ra tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám

GS Lương Kim Định quê ở Nam Định, từng giảng dạy ở Việt Nam trước khi du học sáng Pháp, Mỹ. Những năm cuối đời sống ở nước ngoài, nghiên cứu cổ sử Việt vẫn là đam mê của ông và ông đã để lại một di sản văn hóa đồ sộ hơn 40 đầu sách về các lĩnh vực triết học, văn hóa, cổ sử Việt Nam… Những dự đoán tài tình của ông, ngày càng được khoa học liên ngành khảo cổ, cổ thư, nhân chủng xác minh là có cơ sở, đã cho thấy đóng góp của ông trong công cuộc truy tìm cổ văn hóa sử và minh triết của Việt tộc.

Nỗi đau dân tộc

Suốt canh khuya mẹ tuôn dòng lệ
Bởi sáng mai sẽ rời khỏi cõi đời
Bạc Liêu ơi
Việt Nam ơi
Nỗi căm hận, cả trời oán hận...

Nhớ ơn kẻ xâm lược

Không nước nào trên thế giới có chuyện nhân dân một nước bị xâm lăng lại có lãnh đạo kêu gọi nhớ ơn kẻ xâm lược như ở Việt Nam vào thời Trung Cộng sắp dậy cho Việt Nam một bài học nữa.

Chuyện thứ nhất xẩy ra vào ngày 10-07-2012 tại “Đại hội đại biểu tòan quốc Hội hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc nhiệm kỳ V (2012-2017)”.


Tại đây, Nguyễn Thiện Nhân, Phó thủ tướng, Chủ tịch Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt-Trung nói rằng: “Tình hữu nghị truyền thống lâu đời giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Trung Quốc là tài sản quý báu của nhân dân hai nước”.


Nhân còn khẳng định “hai nước đã xây dựng quan hệ hợp tác đối tác chiến lược toàn diện theo phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt”, và “mong muốn, trong nhiệm kỳ tới, Hội hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc sẽ quán triệt phương châm quan trọng này trong các hoạt động cụ thể của mình để góp phần củng cố và thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước.”

Thứ Bảy, 4 tháng 8, 2012

Hãy đến với gia đình của bác Đặng Thị Kim Liêng, chị Tạ Phong Tần và gia đình

 
Sự có mặt của chúng ta không những xuất phát từ lòng thương yêu đối với người thân của chị Tạ Phong Tần mà còn là một nghĩa vụ của lương tâm - chúng ta không thể để những người hy sinh đời mình cho đất nước thấy gia đình mình phải lẻ loi khi tai họa xảy đến, khi đau thương chồng chất.

Thế hệ thứ hai Võ Bị: Trung tá Võ phi Sơn


Lt. Colonel SON PHI VO
Ba mươi lăm năm sau ngày Quốc Hận 30-4-1975….Có ai ngờ những em bé ngày nào bám chéo áo mẹ, hốt hoảng và ngơ ngác trước cơn bão táp đen tối đang ập vào miền Nam thân yêu, nay đang trưởng thành trên quê người với nhiều thành tích đáng nể.
Gần như mỗi ngày, mỗi tháng, chúng ta đều nghe đến một vài tên tuổi mà sự thành đạt của họ trên các lãnh vực đã làm cho gia đình và cộng đồng hãnh diện. Họ đã làm cho người bản xứ thay đổi cách nhìn về người tị nạn VN. Và cũng chính họ, sẽ đánh bật hình ảnh của những kẻ phản bội Brian Đoàn, Ysa Le, Trâm Lê…
Các em xứng đáng là tương lai Việt Nam. Nhất là các em mà trong lòng luôn ấp ủ hình ảnh quê hương quá lá Quốc Kỳ màu vàng ba sọc đỏ, các em biết nói lời biết ơn với sự hy sinh của các thế hệ cha anh.

Thiên Đàng và Địa Ngục

Image

Huy Phương

“Bọn chúng ta hèn như bầy thỏ đế
Khổ đau chia, khi sung sướng một mình
Lúc lửa đỏ bèn cao bay xa chạy
Còn nhớ gì nghĩa huynh đệ chi binh!” (HP)

(Viết cho những hội cứu trợ thương binh)

Dân chủ luôn luôn chiến thắng

Nguyễn Hưng Quốc
 
Trong bài “Tại sao cần dân chủ?”, tôi có nêu lên một luận điểm của Robert A. Dahl: các quốc gia có nền dân chủ cao không gây chiến với nhau. Tất cả các cuộc chiến tranh trong thế kỷ 20, đặc biệt từ năm 1945 về sau, đều là chiến tranh giữa các nước độc tài hoặc giữa các nước độc tài và các nước dân chủ.

Một điều cần được nhấn mạnh thêm là: trong các cuộc chiến tranh giữa phe độc tài và phe dân chủ, phe dân chủ bao giờ cũng thắng.

Viết câu trên, tôi nhớ ngay đến một người bạn vong niên trong giới cầm bút. Năm 2001, sau vụ khủng bố tấn công Mỹ và lúc Mỹ đang đánh Afghanistan và rục rích chuẩn bị đánh Iraq, ông rất quan tâm theo dõi tình hình chính trị thế giới. Trong sự quan tấm ấy, ông không giấu được cảm giác lo lắng. Ông thường tâm sự với tôi: bọn độc tài khi định tấn công ai thì âm thầm chuẩn bị, không ai hay biết gì cả. Còn Mỹ? Ngược lại. Trước khi đánh nhau thì mang ra Quốc Hội bàn. Bàn ở Quốc Hội chưa đủ, mang cả ra Liên Hiệp Quốc cãi. Phe bênh phe chống cứ inh ỏi cả lên. Báo chí loan tin. Truyền thanh truyền hình cũng cập nhật mọi toan tính từng ngày từng giờ. Cả việc chuyển quân cũng không giấu giếm. Máy bay chưa cất cánh, người ta đã biết nó sẽ đi đâu và chở bao nhiêu bom. Rồi trong lúc đánh nhau, phe đối lập và một số dân chúng cứ xuống đường la hét đòi ngưng chiến tức khắc. Vậy thì làm sao mà thắng chứ?

Nhạc sĩ du ca Phan Văn Hưng: hát cho tuổi thơ và quê hương đọa đày


Nhạc sĩ Phan Văn Hưng và nhà văn Nam Dao là đôi vợ chồng đã hoạt động cho âm nhạc và văn chương trong nhiều năm ở hải ngoại. Trong những ca khúc phổ biến đặc biệt chúng ta đã thưởng ngoạn, nhạc do Phan Van Hưng và lời của Nam Dao viết.

1970-1982: Thời là sinh viên tại Pháp, Phan Văn Hưng và Nam Dao tham gia các hoạt động của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Paris, cùng thời với Trần Văn Bá. Trong thời gian này, Hưng khởi xướng Ðoàn Du Ca Paris, điều khiển ban hợp xướng và đạo diễn những đêm hội Tết trong nhiều năm.

1977: Phan Văn Hưng khởi xướng tạp chí Nhân Bản.

1979: Phan Văn Hưng thành lập Văn Ðoàn Lam Sơn, xuất bản nhạc và thơ. Vào thời gian này chúng ta biết đến thơ Nam Dao trong tập “Cho Ngày Mai Lúa Chín”.

Sau biến cố Tháng Tư 1975, sau khi miền Nam sụp đổ và đất nước sống dưới ách thống trị của Cộng Sản, tuy ở xa quê hương, nhưng những nỗi đau của cả dân tộc đã làm cho lòng người nghệ sĩ yêu nước cảm thông, xót xa và không thể không viết lên những ca khúc vang động đến lòng người. Những ca khúc của Phan Văn Hưng và Nam Dao như tiếng gào thét phẫn nộ, tiếng kêu của phận người, tiếng rên siết khổ đau của người Việt Nam. Tất cả những điều này chúng ta đã tìm thấy trong khoảng thời gian từ 1975 đến 1982, qua một số ca khúc bất hủ như: “Ai Về Xứ Việt”, “Thằng Bé Tát Dầu”, “Tiễn Em Rời K18”, “Tôi Thấy Tôi Về”, “Còn Ai Thương Dân Tôi”, “Bài Ca Cho Bé Hải”, “Giọt Nước Mắt Của Mẹ” v.v...